Q2: Chương 4.3

Tôi tỏ ra hết sức kinh ngạc. "Tại sao chứ? Lưu Hướng Đông chính là trọng điểm chú ý của X khi đó, cô làm như vậy chẳng phải là càng dễ khiến thân phận của mình bị bại lộ ư?"

"Cho nên tôi mới nói là phóng tay mà liều một phen."

Diệp Thu Vi nói. "Mục đích của tôi không phải là bản thân Lưu Hướng Đông, mà là X. Khi tôi tiến hành ám thị Lưu Hướng Đông, X nhất định sẽ đứng ra can thiệp, chỉ cần ông ta có hành động thì tôi sẽ có cơ hội phát hiện ra những manh mối có liên quan tới ông ta, thậm chí là tra rõ thân phận của ông ta.

Nếu có thể tra rõ thân phận của ông ta, tôi sẽ nắm được thế chủ động, hoặc không ít nhất cũng không bị động như trước nữa. Đây chính là cơ hội duy nhất của tôi khi đó."

Tôi suy nghĩ một chút rồi bèn gật đầu, nói: "Quả đúng là như vậy, tình hình khi đó quá mức bất lợi với cô, không còn lựa chọn nào tốt hơn nữa. Xin hãy nói tiếp về quá trình cụ thể đi, cô đã giết chết Lưu Hướng Đông bằng cách nào? Trực tiếp tiếp xúc với ông ta ư?"

"Tất nhiên là không rồi."

Diệp Thu Vi nói. "Lưu Hướng Đông nhận được tin nhắn của tôi vào tối ngày Hai mươi tám, thế nhưng tới sáng ngày hôm sau thì X lại là người dùng điện thoại của ông ta để gửi tin nhắn trả lời tôi.

Hiển nhiên, chính Lưu Hướng Đông đã chủ động nói chuyện tin nhắn với X, hoặc cũng có thể là với lãnh đạo cấp cao của Tập đoàn A. Lưu Hướng Đông không lập tức trả lời ngay có lẽ cũng là vì đã nhận được chỉ thị từ lãnh đạo cấp cao của Tập đoàn A, bởi lẽ Tập đoàn A đã ý thức được rằng Lưu Hướng Đông rất có thể chính là đối tượng tiếp theo mà tôi muốn tiếp cận, do đó mới an bài sẵn đối sách cho ông ta.

Từ đó có thể thấy được, Lưu Hướng Đông có lẽ cũng biết chuyện "có người đang tiến hành điều tra sự kiện M và giết người bằng phương pháp ám thị", thậm chí còn biết chính mình là mục tiêu tiềm tàng tiếp theo. Trong tình huống như vậy, tôi mà trực tiếp tiếp xúc với ông ta thì khác nào tự chui đầu vào rọ."

Nói xong những lời này, Diệp Thu Vi đột nhiên đứng dậy đi tới bên cửa sổ, bỏ kính xuống, sau đó đưa chiếc kính ra ngoài cửa sổ và đưa qua đưa lại một cách chậm rãi mấy lần ánh dương rọi xuống mắt kính rồi phản chiếu mắt tôi, khiến tôi bỗng nảy sinh cảm giác như đang ở trong một kiếp sống khác.

"Lưu Trí Phổ."

Tôi nhìn vào bóng lưng của cô ta, chớp mắt mấy lần, buột miệng nói: "Cô nhất định đã lợi dụng anh ta để truyền đạt lại sự ám thị tới Lưu Hướng Đông."

Cô ta xoay người lại, tựa lưng vào một bên thành cửa sổ. "Lưu Hướng Đông đã gửi gắm giấc mơ quyền lực của mình lên người Lưu Trí Phổ, cho nên ắt hẳn là hết sức tin tưởng anh ta. Cùng với đó, tôi lại chính là người mà Lưu Trí Phổ quyến luyến và tin tưởng nhất. Nếu tôi lợi dụng Lưu Trí Phổ để tiến hành ám thị Lưu Hướng Đông, Lưu Hướng Đông ắt sẽ chẳng bao giờ sinh lòng cảnh giác.

Dù X có phát hiện ra điều gì đó và sinh lòng hoài nghi Lưu Trí Phổ thì Lưu Hướng Đông cũng chẳng chịu tin, thậm chí còn có khả năng vì thế mà nảy sinh mâu thuẫn với X, thậm chí là với lãnh đạo cấp cao của Tập đoàn A nữa. Mà trong tình hình khi đó, cục diện càng hỗn loạn thì lại càng có lợi cho tôi."

Tôi đứng dậy, sau đó lại ngẩn ngơ ngồi xuống. "Muốn giết Lưu Hướng Đông, cô trước tiên phải biết được nhược điểm trong tâm lý của ông ta đã. Cô trước đó chưa từng qua lại với ông ta bao giờ, lại không thể tiếp xúc trực tiếp với ông ta, muốn tìm thấy nhược điểm của ông ta thì chỉ có một cách là thông qua Lưu Trí Phổ."

Tôi suy nghĩ một chút , rồi lại bổ sung thêm: "Cô đã từng hai lần miêu tả về hành động sờ răng cửa trong khi căng thẳng của Lưu Hướng Đông, nhược điểm trí mạng của ông ta chắc là có liên quan tới điều này đúng không?"

Diệp Thu Vi nheo mắt lại nhìn tôi chăm chú, tay trái vẫn cầm kính chậm rãi đưa qua đưa lại. Những tia sáng chói mắt thỉnh thoảng lại phản chiếu lên mặt tôi. Tôi nhắm mắt lại, bên tai dần dần vang lên những tiếng rít quái dị.

Tôi hoang mang buông bút xuống, dùng ngón trỏ bịt chặt hai tai, ngón cái ra sức day dái tai. Nhưng trong vòng mười mấy giây sau đó, tiếng rít quái dị đó không những không biến mất, ngược lại còn càng lúc càng trở nên rõ ràng hơn. Tôi cúi đầu nhắm mắt, hơi thở dần trở nên dồn dập, nhưng mấy giây sau thì lại bất ngờ bình tĩnh trở lại, cảm thấy tiếng rít kia tới từ một chỗ không xa phía trước - chính là nơi mà Diệp Thu Vi đang đứng.

Tôi ngẩng đầu nhìn cô ta, tiếng rít bỗng biến mất một cách đột ngột. Chỉ thấy cô ta lúc này vẫn đang đứng cạnh cửa sổ, tay trái chậm rãi đưa qua đưa lại chiếc kính gọng đen, cặp mắt thì nhìn tôi chăm chú.

Tôi đưa tay lau mồ hôi trên trán, cầm bút lên hỏi: "Có thể tiếp tục được chưa?"

Cô ta do dự trong giây lát, sau đó khẽ gật đầu, chậm rãi quay trở lại ngồi xuống ghế mây, lại vuốt tà váy một chút rồi mới hỏi: "Vừa nãy tôi nói đến đâu rồi?"

"Đang nói tới hành vi cưỡng chế của Lưu Hướng Đông."

Tôi không chút nghĩ ngợi, nói ngay: "Hành vi tượng trưng cho tư duy cưỡng chế, mà nguồn gốc của mọi tư duy cưỡng chế đều là nỗi sợ hãi, chỉ cần tìm nỗi sợ hãi này..." Nói tới đây, tôi bỗng cảm thấy đầu đau như búa bổ, đại não trở nên trống rỗng trong một thời gian ngắn, rồi tôi bèn hỏi bằng giọng không chắc chắn lắm: "Có... có đúng là như vậy không?"

"Đúng."

Diệp Thu Vi nói. "Như anh đã nói, hành vi cưỡng chế bắt nguồn từ tư duy cưỡng chế, mà nguồn gốc của tư duy cưỡng chế thì chính là nỗi sợ hãi. Do đó, chỉ cần tìm được nỗi sợ hãi này thì sẽ có thể thông qua ám thị để phóng đại nó lên vô số lần, từ đó khiến con người ta nảy sinh tư duy cưỡng chế cực đoan, cuối cùng thì làm ra hành vi cưỡng chế cực đoan. Mà những hành vi cưỡng chế cực đoan thông thường đều là trí mạng."

Tôi suy nghĩ một chút rồi nói: "Xin hãy nói lại quá trình cụ thể đi."

"Muốn làm nên một việc gì đó, trước tiên nhất định phải làm rõ nguyên lý và quy luật của nó."

Diệp Thu Vi hờ hững đưa mắt nhìn tôi. "Anh Trương, tôi hỏi anh điều này trước, thế nào là chứng rối loạn ám ảnh cưỡng chế?"

Tôi há miệng ra nhưng lại chẳng biết nên biểu đạt thế nào.

Cô ta trầm ngâm một chút rồi mới nói: "Hành vi cưỡng chế và tư duy cưỡng chế đều là biểu hiện của chứng rối loạn ám ảnh cưỡng chế, và căn nguyên của nó thì chính là nỗi sợ hãi. Cho nên, khi bị mắc chứng rối loạn ám ảnh cưỡng chế, dù người bệnh có biểu hiện quái dị và phức tạp thế nào đi nữa thì xét cho cùng cũng đều là sự đấu tranh để loại trừ nỗi sợ hãi của tâm lý, và đó cũng là một hình thức biểu hiện của cơ chế tự bảo vệ của tâm lý."

Tôi lặng lẽ gật đầu, ghi chép tỉ mỉ những điều này lại.

"Căn cứ vào những thái độ khác nhau khi đối diện với sợ hãi, rối loạn ám ảnh cưỡng chế có thể chia ra làm hai loại."

Cô ta chậm rãi nói. "Loại thứ nhất là thông qua hình thức tự an ủi để loại trừ nỗi sợ hãi, được gọi là rối loạn ám ảnh cưỡng chế tích cực, tình trạng rối loạn ám ảnh cưỡng chế thuộc loại này tuyệt đại đa số đều phát triển và hình thành từ những hành vi nghi thức hóa.

Lấy một ví dụ thường thấy nhất thế này: Có một cặp cha mẹ rất thích sạch sẽ, họ đã nhấn mạnh quá mức với con mình những quan niệm như là "vi khuẩn tồn tại ở bất cứ đâu", "vi khuẩn có thể khiến người ta sinh bệnh", đồng thời còn đưa ra những yêu cầu nghiêm khắc, thậm chí là hà khắc đối với đứa bé về phương diện thói quen vệ sinh. Như thế trong quá trình trưởng thành, đứa bé rất có thể sẽ nảy sinh một nỗi sợ hãi sâu sắc đối với vi khuẩn cũng như những vật bẩn thỉu.

Ban đầu, đứa bé sẽ loại trừ nỗi sợ hãi bằng những hành vi như là tránh tiếp xúc với vật bẩn, chăm chỉ rửa tay, đồng thời dần dần nảy sinh những hành vi nghi thức hóa tương ứng - tức là nó sẽ thông qua những hành vi này để có được sự nhẹ nhõm, tự tin cùng với những tâm trạng tích cực khác. Một khi hành vi nghi thức hóa bị phá hoại, nỗi sợ hãi sẽ nhanh chóng bùng phát và lan tràn, từ đó dẫn đến sự xuất hiện của chứng rối loạn ám ảnh cưỡng chế.

Chẳng hạn như một ngày nào đó đứa bé không cẩn thận làm bẩn tay nhưng lại không có chỗ nào để rửa, thế là nó sẽ cho rằng vi khuẩn đã chui vào trong cơ thể của mình rồi. Sau đó, dù có tắm rửa sạch sẽ thế nào đi nữa thì trong tiềm thức của nó cũng vẫn tồn tại suy nghĩ không thể loại trừ hết vi khuẩn, đồng thời nảy sinh tâm trạng lo lắng không chịu sự khống chế của lý trí.

Để có thể loại trừ nỗi sợ hãi, nó sẽ chăm chỉ rửa tay hơn, nhưng hành vi rửa tay chỉ có thể đem lại sự thư thái cho nó trong một quãng thời gian nhất định, thời gian qua đi, nỗi sợ hãi trong tiềm thức sẽ lại tiếp tục ập đến ép nó phải rửa tay lần nữa. Sau khi trưởng thành, nỗi sợ hãi này đã trở thành thâm căn cố đế, trở thành một bộ phận của bản năng.

Tâm lý vốn có quán tính, chỉ kháng cự lại bản năng thôi đã đủ đau khổ, căn bản không thể nào thay đổi bản năng. Do đó, dù đứa bé sau khi trưởng thành biết được rất nhiều tri thức về việc giữ gìn sức khỏe, cũng biết rằng liên tục rửa tay chẳng có tác dụng gì, vậy nhưng nỗi sợ hãi trong tiềm thức sẽ không dễ dàng thay đổi chỉ vì ý thức. Tình trạng rối loạn ám ảnh cưỡng chế tích cực được hình thành như thế."

Tôi ghi chép sơ qua một chút, sau đó hỏi: "Rối loạn ám ảnh cưỡng chế tích cực không khó hiểu, nhưng còn rối loạn ám ảnh cưỡng chế tiêu cực thì sao?"

Diệp Thu Vi nhìn chằm chằm vào tôi, sau khi im lặng gần mười giây mới lại lên tiếng nói tiếp: "Tình trạng thứ hai của chứng rối loạn ám ảnh cưỡng chế là người bệnh muốn thông qua việc loại trừ vật tạo ra nỗi sợ hãi để đạt được mục đích là hoàn toàn loại trừ nỗi sợ hãi, và nó được gọi là rối loạn ám ảnh cưỡng chế tiêu cực.

Tình trạng rối loạn ám ảnh cưỡng chế tiêu cực có thể nói là hết sức cực đoan, nhưng tuyệt đại đa số chỉ dừng lại ở mức tư duy cưỡng chế mà thôi. Tôi vẫn sẽ lấy ví dụ để làm rõ vấn đề này nhé... ừm, anh Trương."

Cô ta đột nhiên hỏi tôi: "Anh có bao giờ nảy ra những suy nghĩ không thực tế, đê hèn và ác độc không? Ví dụ như là phát sinh quan hệ tình dục với nam giới, hoặc là giết chết con của chính mình chẳng hạn?"

Tôi nhìn cô ta bằng ánh mắt sợ hãi, vì lời của cô ta đã chạm vào nơi sâu thẳm trong nội tâm của tôi. Tôi quả thực đã từng nảy sinh sự ảo tưởng về việc phát sinh quan hệ tình dục với người cùng giới, nhưng bất kể là về tâm lý hay là về sinh lý, tôi đều không có một chút ham muốn tình dục nào đối với người cùng giới cả, thậm chí chỉ cần nghĩ đến thôi là đã cảm thấy buồn nôn.

Tôi cũng từng không chỉ một lần nảy sinh suy nghĩ giết chết con trai mình. Khi con trai tôi hơn một tuổi, thằng bé rất thích được tôi giơ cao lên giữa không trung, mỗi lần giơ nó lên như vậy trong đầu tôi đều thoáng qua suy nghĩ buông tay ra, để cho nó rơi xuống đất.

Khi con trai tôi bốn tuổi, thằng bé rất thích bò tới bên cạnh cửa sổ chơi đùa, và mỗi lần như vậy tôi cũng đều nảy ra suy nghĩ phải đẩy nó ra ngoài cửa sổ. Nhưng đồng thời, tôi hiểu rõ là tôi rất yêu con trai của mình, tuy có những suy nghĩ như vậy nhưng tuyệt đối không bao giờ biến chúng thành hành động.

Tỉ mỉ ngẫm lại, những suy nghĩ đáng sợ tương tự như vậy còn có rất nhiều, tôi luôn cho rằng đó là do cái ác ở nơi sâu thẳm trong nội tâm của tôi quậy phá. Diệp Thu Vi tại sao lại đoán được tôi từng có những suy nghĩ như vậy? Cô ta đưa ra câu hỏi này rốt cuộc là nhằm mục đích gì đây?

Tôi trầm tư suy nghĩ suốt một hồi lâu, cuối cùng liền đưa tay sờ lên cổ, lại khẽ bóp chóp mũi mấy cái, lắc đầu ý là tôi chưa bao giờ có những suy nghĩ tương tự như vậy.

"Anh không thành thực."

Diệp Thu Vi bình tĩnh nói. "Nhưng điều này cũng có thể hiểu được. Đối với người bình thường, những suy nghĩ như vậy quả thực rất khó để mở miệng nói thành lời."

"Thực sự không có mà."

Tôi đưa tay trái lên, dùng đốt thứ hai của ngón trỏ để không ngừng cọ vào vùng da xung quanh huyệt nhân trung, sau khi suy nghĩ một lát tôi lại buông tay xuống, thản nhiên nói: "Có điều, tôi đã từng tiếp xúc với người có suy nghĩ như vậy."

Diệp Thu Vi nói: "Vậy thì hay lắm, anh hãy kể cho tôi biết về người này cũng như suy nghĩ của anh ta đi."

Tôi khẽ gật đầu, kể cho cô ta nghe một chuyện như thế này.

Mùa xuân năm 2010, tại trại giam nữ của thành phố tôi từng phỏng vấn một người phụ nữ trẻ tên là Triệu Đông Mai. Cô ta là người bản địa, nhà ở một xã nhỏ nằm tại ngoại ô phía tây của thành phố, bản thân và chồng đều là những người nông dân thành thực chất phác.

Cô ta vì mắc tội cố ý giết người mà bị phạt tù có thời hạn mười lăm năm, tình huống cụ thể như sau: Một buổi chiều tối tháng 9 năm 2009, cô ta tự tay đẩy đứa con trai mới bốn tuổi rưỡi của mình xuống nước, khiến thằng bé bị chết đuối.

Khi gặp mặt, cô ta một mực cúi đầu, thỉnh thoảng còn cắn ngón tay và cười gằn mấy tiếng vẻ đầy lạnh lùng. Cán bộ trại giam nói cho tôi biết, loại trạng thái thế này đã có thể coi là tốt rồi, vì Triệu Đông Mai rất hay vô cớ nổi điên, không phải đánh nhau với bạn tù thì cũng là đập đầu vào tường, còn rất hay tìm cơ hội nhảy lầu tự tử nữa.

Trại giam từng không chỉ một lần đề nghị tòa án cho phép đưa cô ta đi giám định tâm thần, vậy nhưng thái độ của tòa án lại hết sức rõ ràng: Trước khi vào tù, Triệu Đông Mai từng được giám định tâm thần nhiều lần rồi, cô ta hoàn toàn không có vấn đề gì về tâm thần cả.

Khi đó, tôi đã trò chuyện với cô ta trong một thời gian rất dài, phần lớn thời gian đều là tôi nói và cô ta nghe. Khi bị hỏi đến việc tại sao lại giết chết con trai mình, cô ta đột nhiên không còn im lặng nữa mà mở miệng nói: "Chẳng tại sao cả, tôi chỉ tự dưng muốn đẩy nó xuống sông thôi."

Tôi lại hỏi: "Cô rất ghét con trai mình ư?" Cô ta lập tức trở lên kích động, vừa múa may đôi tay của mình vừa nói: "Nó là con trai tôi, là khúc ruột của tôi! Tôi làm sao mà lại ghét nó đuọc! Tôi yêu thương nó lắm chứ!"

Tôi hỏi tiếp: "Nếu cô đã yêu thương thằng bé, vậy thì tại sao còn giết nó như vậy?" Cô ta đưa tay vò đầu bứt tóc, điên cuồng gào lên: "Tôi cũng không biết là tại sao, tôi chỉ tự dưng muốn đẩy nó xuống sông thôi!"

Về sau, tôi tìm cách điều tra các tư liệu có liên quan tới vụ án Triệu Đông Mai giết con. Bất kể là khi đối mặt với sự thẩm vấn của cảnh sát hay là với sự chất vấn của quan tòa cũng như nhân viên công tố, câu trả lời của Triệu Đông Mai đều không có gì khác biệt: Cô ta rất thương yêu con mình nhưng lại không kiềm chế được suy nghĩ muốn vứt thằng bé xuống sông cho chết đuối. Bắt đầu từ lúc thằng bé hai tuổi rưỡi thì suy nghĩ này đã tồn tại trong đầu cô ta rồi, cô ta đã cố kháng cự hai năm, nhưng rốt cuộc vẫn biến nó thành hành động.

Nhưng khi nghe thấy câu trả lời này, cả phía cảnh sát tòa án và trại giam đều không tin tưởng vào cách nói của Triệu Đông Mai, bọn họ cho rằng cô ta cố tình che giấu động cơ giết người thực sự.

Nghe xong lời kể của tôi, Diệp Thu Vi nói: "Hãy lấy việc của Triệu Đông Mai làm ví dụ đi. Anh Trương, anh có tin vào cách nói của cô ta không?"

Tôi nói: "Khi nói ra những lời đó, cô ta tỏ ra rất thành khẩn, tôi cũng muốn tin vào lời cô ta nói. Nhưng nếu cô ta đã yêu thương con trai mình, vậy thì tại sao còn nảy sinh suy nghĩ vứt thằng bé xuống sông như thế chứ? Điều này thật khiến người ta cảm thấy khó hiểu."

"Đó là vì nỗi sợ hãi."

Diệp Thu Vi nói. "Có phải cô ta từng có lần suýt bị mất con không? Ví dụ như con cô ta đã gặp phải nguy hiểm về tính mạng hoặc là bị người ta bắt cóc chẳng hạn?"

Tôi bất giác sững người. "Đúng, đúng thế, con cô ta quả thực đã từng bị bắt cóc, nhưng về sau đã được giải cứu... Cô làm sao lại biết được chuyện này?"

Diệp Thu Vi lại nói tiếp: "Thời điểm con cô ta được giải cứu có lẽ là vào khoảng tháng 9 năm 2009."

Tôi hít sâu một hơi, nhíu chặt đôi hàng lông mày.

Năm đó, vì cách nói của Triệu Đông Mai quá ư quái dị nên tôi đã sinh lòng tò mò rất lớn đối với cô ta, liền đi sâu vào tìm hiểu các chi tiết trong vụ án này. Chuyện con trai cô ta từng bị bắt cóc mãi đến bây giờ tôi vẫn còn ghi nhớ rất rõ, tình hình cụ thể là như thế này: Con trai Triệu Đông Mai sinh vào tháng 3 năm 2005, bị người ta bắt cóc bán đi vào tháng 10 năm 2006, đến cuối tháng 8 năm 2007 thì được cảnh sát giải cứu và đưa trở về nhà.

Ngay sau đó, Diệp Thu Vi lại hỏi tôi thêm một câu nữa: "Dòng sông nơi xảy ra chuyện có lẽ nằm ngay gần nhà của Triệu Đông Mai đúng không? Con trai cô ta ắt hẳn là thường xuyên tới bờ sông chơi."

Những lời này của cô ta hoàn toàn ăn khớp với tình hình thực tế. Tôi nhất thời chẳng nói được gì, chỉ đành lẳng lặng gật đầu.

"Tôi về cơ bản đã có thể hiểu được vấn đề của Triệu Đông Mai nằm ở đâu rồi."

Cô ta bình thản phân tích bằng giọng điệu không nhanh không chậm: "Đối với một người mẹ, không có chuyện gì đáng sợ hơn là bị mất đi đứa con mà mình dứt ruột đẻ ra. Trải nghiệm mất con trong gần một năm đã lưu lại trong lòng Triệu Đông Mai một nỗi sợ hãi vô cùng sâu sắc, và cô ta nhất định là rất sợ phải mất con thêm một lần nữa.

Sau khi mất rồi lại được, cô ta hẳn sẽ lại càng yêu thương con mình hơn trước, nhưng đó không chỉ đơn thuần là tình mẹ nữa mà còn là một thứ tình cảm có nguồn gốc từ nỗi sợ mất con. Cho nên, cô ta nói vô cùng yêu thương con mình hoàn toàn là lời từ tâm can phế phủ."

Tôi vẫn lặng lẽ gật đầu.

"Sau khi trở lại bên cạnh mẹ mình, đứa bé đã được hai tuổi rưỡi, vừa hay là độ tuổi nghịch ngợm nhất ở những đứa bé trai. " Diệp Thu Vi tiếp tục phân tích: "Thằng bé nhất định là thường xuyên cùng những đứa bé khác trong thôn đến bờ sông chơi, có lẽ còn từng nhìn thấy những đứa bé lớn tuổi hơn xuống sông bơi lội nữa, cho nên trong lòng ắt hẳn là hết sức tò mò về dòng sông.

Chính vì nguyên nhân này, Triệu Đông Mai có lẽ từng không chỉ một lần nhìn thấy con trai xuất hiện ở bên bờ sông, còn vì thế mà cảm thấy vô cùng lo lắng cho sự an toàn của con trai nữa. Cô ta nhất định là đã từng thử giáo dục con trai về sự an toàn, nhưng thứ nhất là ý thức về sự an toàn ở vùng nông thôn vẫn còn khá yếu kém, thứ hai là những bé trai một khi đã nghịch ngợm thì cha mẹ thường rất khó quản lý, mà hơn nữa thằng bé còn từng bị bắt cóc gần một năm trời.

Cho nên, sự giáo dục của Triệu Đông Mai gần như không có chút tác dụng nào cả, đứa bé vẫn thường xuyên chạy đến bờ sông chơi đùa mà chẳng sợ hãi chút nào. Sự thực về chuyện con mình bất cứ lúc nào cũng có thể rơi xuống sông đã làm tăng thêm nỗi sợ hãi của Triệu Đông Mai về chuyện mình có thể bị mất con thêm lần nữa. Nỗi sợ hãi này càng lúc càng mãnh liệt, đợi đến khi cô ta không thể chịu đựng được nữa thì liền biến thành một thứ tâm lý đặc thù."

"Đó chính là động cơ khiến cô ta tự tay đẩy con trai mình xuống sông ư?" Tôi vẫn cảm thấy rất khó hiểu. "Tại sao lại như vậy chứ?"

"Là bởi vì cơ chế tự bảo vệ của tâm lý."

Diệp Thu Vi nói. "Nỗi sợ hãi trong một thời gian dài đã tạo ra cho tâm lý một sự giày vò khó có thể chịu đựng được. Để tránh bị sụp đổ, tâm lý sẽ tự phát tìm đủ mọi cách để loại trừ nỗi sợ hãi.

Giáo dục về sự an toàn không có chút tác dụng nào, thằng bé vẫn thường xuyên xuất hiện ở bờ sông, thế là tiềm thức của Triệu Đông Mai liền cho rằng chỉ còn duy nhất một biện pháp có thể loại trừ nỗi sợ hãi, đó chính là tự tay đẩy con trai mình xuống sông. Sau khi con trai chết, tâm lý của cô ta sẽ chỉ phải chịu đựng nỗi buồn đau thôi, không còn phải cảm thấy sợ hãi khi bất cứ lúc nào cũng có thể mất đi con trai một lần nữa.

Đây chính là cái gọi là rối loạn ám ảnh cưỡng chế tiêu cực mà tôi đã nói tới, người bệnh mắc phải chứng này sẽ muốn thông qua việc loại trừ vật tạo ra nỗi sợ hãi để đạt được mục đích là hoàn toàn loại trừ nỗi sợ hãi."

Tôi không kìm được hít sâu một hơi. "Cơ chế tự bảo vệ của tâm lý có thể khiến con người làm ra hành vi cực đoan như vậy ư?"

"Cho nên tôi mới nói rối loạn ám ảnh cưỡng chế tiêu cực hết sức cực đoan, tuyệt đại đa số người mắc phải chỉ dừng lại ở giai đoạn tư duy cưỡng chế mà thôi."

Diệp Thu Vi nói. "Giống như Triệu Đông Mai vậy, cô ta cũng từng có một thời gian bị giày vò bởi tư duy cưỡng chế cuối cùng thì không chịu đựng được nữa, thế là mới biến suy nghĩ thành hành động."

Tôi khẽ gật đầu, trầm ngâm nói: "Thì ra là vậy. Nguồn cơn của những suy nghĩ về việc phát sinh quan hệ tình dục với người đồng giới, giết chết con của chính mình, nhảy xuống đất khi đứng ở trên cao, đều là nỗi sợ hãi đối với hậu quả mà bản thân những việc đó mang lại."

"Đúng vậy."

Diệp Thu Vi nói. "Anh cho rằng hành vi quan hệ tình dục với người đồng giới là một chuyện khiến người ta sợ hãi, thế là liền nảy sinh tư duy cưỡng chế có liên quan, đó là thông qua hành động thực tế để loại trừ hoàn toàn nỗi sợ hãi đối với chuyện không biết khi nào thì xảy ra này.

Anh rất yêu thương con của mình, sợ nó bị tổn thương, thế là mới nảy sinh suy nghĩ làm nó bị tổn thương, thậm chí là giết chết nó để loại trừ nỗi sợ hãi trong nội tâm của bản thân đối với điều này. Anh sợ bị ngã từ trên cao xuống dưới đất, thế là mới nảy sinh suy nghĩ phải nhảy xuống dưới, bởi vì một khi nhảy xuống rồi thì anh không còn phải sợ mình không cẩn thận bị ngã nữa.

Bất kể là rối loạn ám ảnh cưỡng chế tích cực hay là rối loạn ám ảnh cưỡng chế tiêu cực, xét cho cùng thì đều là những hoạt động tâm lý nhằm loại trừ nỗi sợ hãi trong nội tâm, sự khác biệt chỉ là về phương thức mà thôi."

Tôi bất giác rơi vào trầm tư. Sự phân tích của Diệp Thu Vi về rối loạn ám ảnh cưỡng chế tiêu cực đã mang tới cho tôi một sự chấn động lớn chưa từng có, khiến tôi có được một nhận thức hoàn toàn mới về thế giới tinh thần của loài người.

Mãi một hồi lâu sau tôi mới dần dần bình tĩnh trở lại. "Xin hãy tiếp tục đi, bản chất của chứng rối loạn ám ảnh cưỡng chế về cơ bản tôi đã hiểu rồi. Cô hãy nói tiếp về sự phân tích của mình đối với Lưu Hướng Đông đi, hành vi sờ răng cửa của ông ta rốt cuộc thuộc phạm trù tích cực hay là tiêu cực vậy?"

"Về chứng rối loạn ám ảnh cưỡng chế tôi hãy còn chưa nói xong."

Diệp Thu Vi hơi nghiêng người cầm cốc nước lên. "Đôi khi người ta không chỉ bị rối loạn ám ảnh cưỡng chế thuần túy tích cực hay tiêu cực, còn có khả năng kiêm luôn cả hai loại kể trên."

Cô ta khẽ nhấp một ngụm nước, nhìn chăm chăm vào tôi bằng ánh mắt lạnh lùng băng giá. "Anh Trương, chứng rối loạn ám ảnh cưỡng chế mà tôi sắp nói ra đây có mối liên quan cực kỳ mật thiết với anh."


Danh sách chương: